Hồ Chí Minh luôn luôn hô hào đoàn kết dân tộc. Một trong những khẩu hiệu ưng ư
của họ Hồ là "đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công đại thành
công."(33) Sau đây là các cách thức đoàn kết của Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản
Việt Nam.
* Đoàn kết là tiêu diệt tất cả mọi người bất đồng chính kiến bằng bất cứ giá nào
để giành quyền lực: Khoảng giữa tháng 11-1924, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Lư
Thụy, đáp tàu từ Vladivostok (viễn đông Liên Xô) đi Quảng Châu (Trung Hoa) với
vai tṛ thông ngôn của phái bộ cố vấn Borodin bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên
trong thời kỳ liên minh quốc cộng đầu tiên ở Trung Hoa. Đến Quảng Châu, Lư Thụy
bắt đầu gây dựng cơ sở đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhà lănh đạo cách mạng Việt Nam
uy tín nhất ở Trung Hoa thời bấy giờ là Phan Bội Châu. Để giành lấy tổ chức của
Phan Bội Châu, một trong những việc làm đầu tiên của Lư Thụy ở Quảng Châu là bán
tin tức cho Pháp bắt Phan Bội Châu khi ông Phan đi từ Hàng Châu đến Thượng Hải
ngày 1-7-1925.(34) Từ đó, những người hoạt động cách mạng ở Trung Hoa thiếu người
lănh đạo, dần dần ngả về theo nhóm cộng sản của Lư Thụy. Chẳng những chỉ một
ḿnh Phan Bội Châu, mà những cán bộ cách mạng nào không theo phe Lư Thụy, đều bị
Lư Thụy bán tin cho Pháp bắt trên đường về Việt Nam hoạt động.(35)
Trong cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1930, các đảng viên
cộng sản áp dụng đúng sách vở của Lư Thụy, rải truyền đơn tố cáo Quốc Dân Đảng
sẽ tấn công Bắc Kỳ để Pháp đề pḥng và lùng bắt các đảng viên QDĐ. Nguyễn Thị
Giang đă đưa các tờ truyền đơn nầy cho Nguyễn Thái Học xem, nhưng Nguyễn Thái
Học vẫn không tin là những đảng phái cách mạng Việt Nam cùng chống Pháp lại có
thể hại nhau như thế.(36)
Năm 1945, Nhật Bản thất trận và đầu hàng Đồng Minh. Tại hội nghị Potsdam (thị
trấn ngoại ô Berlin), đại diện các nước Đồng Minh đưa ra tối hậu thư cho Nhật,
trong đó quyết định về vấn đề Đông Dương như sau: quân đội Nhật sẽ bị giải giới
do người Trung Hoa (Quốc Dân Đảng) ở phía bắc vĩ tuyến 16, và do người Anh ở
phía nam vĩ tuyến 16. Tối hậu thư không nói ai sẽ cầm quyền sau khi quân đội
Nhật bị giải giới. Lợi dụng khoảng trống chính trị nầy, Mặt trận Việt Nam Độc
Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh, gồm ṇng cốt là đảng viên cộng sản, tổ
chức cướp chính quyền. Việt Minh đă giết hại và thủ tiêu vô số người yêu nước
không đi theo chủ trương đường lối của Việt Minh. Những tên tuổi lớn đều bị Việt
Minh giết hại như Phạm Quỳnh (1945), Ngô Đ́nh Khôi (1945), Tạ Thu Thâu (1945),
Bùi Quang Chiêu (1945), Phan Văn Hùm (1945), Trương Tử Anh (1946), Huỳnh Phú Sổ
(1947), Khái Hưng (1947)... Việt Minh thủ tiêu hàng loạt các đảng viên Quốc Dân
Đảng, các nhà trí thức khác, bà hàng ngàn tín đồ đạo Cao Đài.(37) Việt Minh thủ
tiêu tất cả những ai có thể tranh quyền với Việt Minh, từ trung ương, ở các
thành phố lớn, đến những đơn vị nhỏ nhất ở các làng xă.
Như vậy, ư nghĩa thứ nhất về việc đoàn kết và liên hiệp đối với Hồ Chí Minh và
đảng Cộng Sản, là sự sáp nhập hay tiêu diệt tất cả các phe nhóm hay cá nhân đối
lập với Cộng Sản bằng bất cứ giá nào, bằng bất cứ phương tiện ǵ, để chỉ c̣n lại
những ai chịu "đoàn kết" chấp nhận vâng phục cộng sản. Chỉ khi nào thất thế, gặp
nhiều trở lực, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản mới sử dụng cách đoàn kết thứ nh́.
* Đoàn kết là tạm thời nhượng bộ, liên minh giai đoạn để vượt khó khăn: Cũng
trong năm 1945, sau khi lập chính phủ đầu tiên ngày 2-9, gồm đại đa số đảng viên
cộng sản, Hồ Chí Minh gặp nhiều trở ngại về phía người Pháp theo chân người Anh
đến Đông Dương, và từ từ tiến ra Bắc; về phía người Trung Hoa (Quốc Dân Đảng) đang
từ biên giới tiến xuống Hà Nội theo thỏa ước Potsdam; và về phía những đảng phái
cách mạng Việt Nam như Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách Mạng Đồng
Minh Hội (Việt Cách). Hồ Chí Minh đành phải nhượng bộ, tuyên bố giải tán đảng
Cộng Sản Việt Nam ngày 11-11-1945, thực chất là đảng Cộng Sản rút vào hoạt động
bí mật.(38) Họ Hồ tổ chức tổng tuyển cử ngày 6-1, và thành lập chính phủ liên
hiệp ngày 2-3-1946 gồm cả những lănh tụ Việt Cách và Việt Quốc như Nguyễn Hải
Thần, Trương Đ́nh Tri, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Chu Bá Phượng, Nghiêm Kế
Tổ ... Ngay sau khi kư kết được với Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3, tạm ḥa hoăn
với Pháp, và mua chuộc được các tướng lănh Trung Hoa để họ rút quân về nước, nghĩa
là vừa thoát qua được khó khăn, Hồ Chí Minh thẳng tay loại bỏ ngay các lănh tụ
không phải là Việt Minh ra khỏi chính phủ, khủng bố, giết hại nhân viên các đảng
phái quốc gia, nuốt chửng những kẻ đă từng liên hiệp với họ.
Sách lược nầy được ứng dụng thêm một lần nữa với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam
thành lập ngày 20-12-1960. Lúc đầu, mặt trận nầy gồm một số đảng viên cộng sản
làm ṇng cốt và một số người chống chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Sau đó, những người
không thuộc đảng Cộng Sản bị loại dần cho đến khi mặt trận chỉ c̣n lại những người
của Cộng Sản Đảng mà thôi.
Những người trước đây bất đồng chính kiến, nhưng khi gặp Hồ Chí Minh và đảng
Cộng Sản, chịu khuất phục và chịu đi theo họ Hồ th́ được sử dụng trong những
giai đoạn và hoàn cảnh cần thiết. Ví dụ Trần Huy Liệu (1901-1969), chủ bút Đông
Pháp Thời Báo (1925-1927), chi bộ trưởng chi bộ đặc biệt của Việt Nam Quốc Dân
Đảng ở Sài G̣n, bị Pháp bắt đày Côn Đảo trong năm năm. Măn hạn tù, ông ra bắc
năm 1935 và gia nhập đảng Cộng Sản năm 1936. Năm 1939, ông bị Pháp bắt trở lại,
đày đi Sơn La, rồi an trí năm 1942 ở Thái Nguyên, và Yên Bái. Năm 1945, ông trốn
về Hà Nội làm báo Cứu Quốc của Việt Minh trong ṿng bí mật. Khi Việt Minh cướp
chính quyền ngày 2-9, ông được Hồ Chí Minh giao làm bộ trưởng bộ Tuyên Truyền
trong chính phủ Việt Minh đầu tiên. Ông được cử làm trưởng phái đoàn Việt Minh
gồm cả Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận (tức nhà thơ Huy Cận) vào Huế chứng kiến
việc thoái vị của vua Bảo Đại tại cửa Ngọ Môn ngày 30-8-1945.
Hồ Chí Minh giao Trần Huy Liệu làm bộ trưởng bộ Tuyên Truyền không phải v́ tín
nhiệm Trần Huy Liệu mà v́ họ Hồ cần uy tín chính trị của ông. Trần Huy Liệu vốn
là chi bộ trưởng chi bộ đặc biệt Quốc Dân Đảng tại Sài G̣n. Hồ Chí Minh sử dụng
Trần Huy Liệu để tuyên truyền cho cái gọi là chính sách đoàn kết đảng phái của
Việt Minh, nhắm lôi cuốn quần chúng theo họ, nhất là lôi cuốn các đảng viên Quốc
Dân Đảng. Lúc bấy giờ do những hy sinh to lớn của Nguyễn Thái Học và các đồng
chí, Quốc Dân Đảng rất có uy tín chính trị trên toàn quốc. Khi đă qua khỏi giai
đoạn cần thiết, năm 1946, Hồ Chí Minh cử Trần Huy Liệu làm uỷ viên thường trực
Quốc Hội. Cuối cùng, năm 1953, Trần Huy Liệu trở thành trưởng ban Nghiên cứu Sử
Địa của nhà cầm quyền cộng sản, một chức vụ không có quyền hành.
Không chỉ riêng trường hợp Trần Huy Liệu, mà c̣n nhiều nhân vật tiếng tăm khác
cũng rơi vào trường hợp ông, như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Anh, Nguyễn Phương Thảo
(tức tướng Nguyễn B́nh), Nguyễn Hữu Thọ... Như thế, ư nghĩa thứ nh́ của việc đoàn
kết với Hồ Chí Minh có nghĩa là quy thuận họ Hồ, theo đuôi đảng Cộng Sản và làm
bù nh́n trong những thời điểm cần thiết cho họ Hồ hay nói cách khác là chỉ được
họ Hồ liên minh giai đoạn. Thử kiểm điểm danh sách những lănh tụ cộng sản từ trước
đến nay, chỉ những người gia nhập đảng Cộng Sản ngay từ khi bước vào hoạt động
chính trị, thuộc thành phần trung kiên mới nắm giữ thực quyền. Những người đă
theo các đảng khác rồi sau đó gia nhập đảng Cộng Sản, hoặc những người ngoài đảng
mà có công lao, chỉ giữ những chức vụ tượng trưng mà thôi, như Nguyễn Hữu Thọ,
Nguyễn Thị B́nh ...
* Đoàn kết là sự vâng phục tuyệt đối lănh đạo đảng: Ngày 2-9-1969, Hồ Chí Minh
qua đời tại Hà Nội. Trong di chúc, Hồ Chí Minh nhắn nhủ với các đảng viên đảng
Cộng Sản: "...Các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ phải giữ ǵn sự đoàn kết
nhất trí của đảng như giữ ǵn con ngươi của mắt ḿnh..."(39) Vậy sự "đoàn kết nhất
trí" trong nội bộ đảng là ǵ?
Trong sinh hoạt đảng Cộng Sản Việt Nam, khi các cấp lănh đạo đưa ra những vấn đề
thảo luận, nếu một đảng viên tŕnh bày những ư kiến cấp tiến mới mẻ, th́ được
lănh đạo gọi là "thành phần xét lại". Ngược lại, có những đảng viên không muốn
thực hiện các cuộc cải đổi quan trọng, th́ được đánh giá là "bảo thủ, tŕ trệ".
Nói một cách khác, bất cứ ai có ư kiến ǵ cũng đều bị chụp mũ là tả khuynh hoặc
hữu khuynh, lệch lạc hoặc xét lại, trừ ư kiến của lănh đạo đảng. Đảng viên chỉ
c̣n một giải pháp duy nhất là gật đầu vâng lệnh thượng cấp.
Như vậy, sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam là sự tuyệt đối
vâng phục và trung thành của đảng viên đối với lănh đạo đảng. Nếu không vâng
phục lănh đạo đảng, kết quả nhẹ nhất là sự trù dập, kỷ luật, và nặng nhất là
thanh trừng.
Ở Việt Nam có một câu thành ngữ thời danh minh họa sự đoàn kết của Cộng Sản: "Đảng
gọi th́ dạ; đảng không gọi th́ không dạ. Đảng gọi mà không dạ không được; đảng
không gọi mà dạ cũng không được." Nói trắng ra, ư nghĩa thứ ba của sự đoàn kết
theo quan điểm của đảng Cộng Sản có nghĩa là phải chịu sự lănh đạo độc tài, độc
đảng, và tuyệt đối vâng phục trung kiên với đảng Cộng Sản. Điều nầy đưa đến một
kết quả tại hại là các đảng viên bị xơ cứng trí óc, sẽ không c̣n sáng kiến để
làm việc.
Điểm đặc biệt là Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản chấp nhận một người trước đây
chống đối họ, nhưng khi đă theo họ th́ phải vâng phục tuyệt đối. Ngược lại, Hồ
Chí Minh và đảng Cộng Sản không bao giờ chấp nhận những người trước đây đă từng
hoàn toàn phục tùng họ, mà sau đó lại có ư muốn cải cách theo chiều hướng nhân
bản, dân chủ, tự do, dù vẫn tuân phục đảng và chủ nghĩa xă hội. Những người nầy
cũng bị coi là kẻ thù và chắc chắn bị loại bỏ. Đó là trường hợp Hoàng Minh Chính,
Nguyễn Thanh Giang, Trần Độ, Hà Sĩ Phu, Dương Thu Hương ...
Có lẽ cũng nên thêm một điểm nữa rất dễ thấy trong lịch sử, là đảng CSVN không
bao giờ tôn trọng những hiệp ước quốc tế do họ kư kết. Hiệp ước là giải pháp
thỏa thuận giữa các bên về một cuộc tranh chấp, cũng có nghĩa là một sự giải ḥa
giữa các bên, bước đầu để tiến dần dần đến sự đoàn kết thống nhất. Đối với đảng
CSVN, kư kết hiệp ước chỉ là đánh lừa dư luận, tạm ngưng tranh chấp, nhắm dưỡng
sức và củng cố nội bộ, để rồi tiếp tục bành trướng. Ví dụ rơ nét nhất là hiệp
định Genève ngày 20-7-1954 và hiệp định Paris ngày 27-1-1973. Đảng CSVN kư kết
hai hiệp ước nầy với sự chứng kiến của các nước trên thế giới, mà họ c̣n trắng
trợn vi phạm, xé bỏ hiệp ước, huống ǵ là sự cam kết giữa họ với những cá nhân
hay những đoàn thể người Việt khác.
Do đó, ḥa giải, liên hiệp và đoàn kết với cộng sản trước sau cũng sẽ bị cộng
sản kiếm cách khống chế và hoàn toàn mất tự do. Những ai muốn ḥa hợp, liên
hiệp, đoàn kết với cộng sản, nên nhớ câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh với Daniel
Guérin trong một lần gặp mặt ở Paris: "... Tất cả những ai không theo đường lối
của tôi đều sẽ bị bẻ găy..."(40)
* Đoàn kết là vắt chanh bỏ vỏ: Lúc Việt Minh cộng sản phát động chiến tranh
chống Pháp, nhiều người yêu nước đă đứng lên hưởng ứng công cuộc kháng chiến.
Chẳng những nhiều thanh niên lên đường theo tiếng gọi của quê hương, mà những
người ở lại hậu phương cũng cố gắng đem tài vật ủng hộ công cuộc đấu tranh chống
Pháp. Việt Minh đă xưng tụng những người nầy là những nhàø "hằng tâm hằng
sản"(có ḷng và có của). Một khi tạm đứng vững, và nhất là khi được Trung Cộng
viện trợ ào ạt từ năm 1951 trở đi, cộng sản Việt Nam mở cuộc cải cách ruộng đất
từ 1953, và quay mặt với những kẻ đă nuôi dưỡng ḿnh từ khi c̣n trứng nước, coi
họ như kẻ thù, tố cáo những nông dân " hằng tâm hằng sản" là địa chủ, đánh đập,
hành hạ và giết họ mà không cho chôn xác. Một tác giả đă từng sống gần Hồ Chí
Minh, kể lại rằng bà Nguyễn Thị Năm ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên có nhà là
nơi căn cứ giao liên, đă nuôi nhiều cán bộ cao cấp qua lại, từ Hồ Chí Minh, đến
Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Hoàng Quốc Việt (Hạ Bá Cang); thế
mà bà là một trong những người đầu tiên bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, và
đặc biệt đă kêu cứu đến tận tai Hồ Chí Minh mà ông lờ đi, để cho người ta giết
bà.(41) Như vậy, với cộng sản, đoàn kết có nghĩa là lợi dụng một chiều theo giai
đoạn, xong việc rồi "vắt chanh bỏ vỏ". Việc "vắt chanh bỏ vỏ" được thấy rơ nhất
trong việc Hồ Chí Minh đối xử với bà Nông Thị Xuân. Hồ Chí Minh sống với bà Xuân
như vợ chồng, và có với bà nầy một đứa con trai. Khi đă chán bà Xuân, ông Hồ để
cho viên bộ trưởng công an là Trần Quốc Hoàn tự do hiếp dâm bà Xuân, rồi giết
vứt xác bà Xuân ngoài đường để ngụy tạo một tai nạn.(42) Đối xử với người đă
từng sống với ḿnh và có với ḿnh một đứa con, mà c̣n tàn bạo như vậy, thử hỏi
Hồ Chí Minh c̣n có thể nói là chuyện t́nh nghĩa đoàn kết với ai được? Từ vụ cải
cách ruộng đất năm 1953 đến vụ án "chống đảng" do Lê Duẩn và Lê Đức Thọ khởi
xướng ở Bắc Việt khoảng giữa thập niên 1960, v́ muốn bảo vệ địa vị của riêng
ḿnh, Hồ Chí Minh đă im tiếng không can thiệp, để mặc cho các đồng chí thân
thiết của ông ta bị thanh trừng, tù đày, hay tàn sát.(43) Chẳng những Hồ Chí
Minh, mà Vơ Nguyên Giáp cũng thế. Những tướng lănh và sĩ quan thân cận của viên
tướng nầy lần lượt bị thanh trừng mà ông ta không dám lên tiếng để bảo vệ sự
thật. Như vậy, chẳng những trên phương diện chính trị đảng phái, mà cả trên
phương diện cá nhân, đoàn kết với những người cộng sản chỉ có nghĩa là để cho họ
lợi dụng xong rồi bị loại bỏ. |
CHÚ THÍCH:
33. Hồ Chí Minh đưa ra khẩu hiệu nầy trong hội nghị ngày 3-3-1951, hợp nhất hai
mặt trận của đảng Cộng Sản là Mặt trận Việt Minh và Mặt trận Liên Việt. (BNCLSĐ,
sđd. tr. 110.)
34. Thượng Huyền, "Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh tại Trung Quốc" [của tác giả
Tưởng Vĩnh Kinh, người Đài Loan], nguyệt san Thế Kỷ 21, Garden Grove,
California, số 108, tháng 4-1998.
Chính Đạo, Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại tập 2:1925-1945, Nxb. Văn Hóa,
Houston, tt. 32-33. Charles Fenn, Ho Chi Minh: a biographical introduction,
Studio Vista, London, 1973, tr. 50; phần chú thích, trích dẫn P. J. Honey viết
trên báo Time ngày 12-9-1971.
35. Ngoài các tài liệu trong chú thích số 34, xin lưu ư câu chót của Trần Trọng
Kim trong trích dẫn ở chú thích số 22 làm ví dụ.
36. Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, tái bản kỳ 2, Sài G̣n, 1970, tr. 108.
37. Trong Bạch thư Cao Đài giáo công bố San Bernardino ngày 9-4-1999, vị đại
diện Cao Đài giáo Ngọc Sách Thanh cho biết rằng tại tỉnh Quảng Ngăi, chỉ trong
ba tuần lễ kể tứ 19-8-1945, Việt Minh sát hại và chôn sống 2791 chức sắc, chức
việc, và tín hữu Cao Đài giáo.
38. Cộng sản thay thế đảng Cộng Sản Đông Dương bằng hội Nghiên Cứu Mác-xít do
cựu tổng bí thư đảng Lao Động là Trường Chinh Đặng Xuân Khu làm chủ tịch. Trong
cuộc gặp gỡ Stalin năm 1950 tại Moscow, trả lời câu hỏi của Stalin tại sao giải
tán đảng Cộng Sản, Hồ Chí Minh giải thích rằng việc giải tán đảng Cộng Sản cuối
năm 1945 chỉ là giải tán giả, trên thực tế là đảng lùi vào hoạt động bí mật.
(Thành Tín, Mặt Thật, tt. 67-68.) Sau cuộc gặp nầy trở về, Hồ Chí Minh tái tổ
chức đảng dưới một danh xưng mới là đảng Lao Động ngày 19-2-1951, do Hồ Chí Minh
làm chủ tịch, Trường Chinh làm tổng bí thư.(Chính Đạo, Việt Nam niên biểu,
1939-1975 (tập B: 1947-1954), Nxb. Văn Hóa, Houston, 1997, tr. 230.)
39. BNCLSĐ, sđd. tr. 170.
40. Jean Lacouture, Ho Chi Minh, Peter Wiles dịch từ tiếng Pháp qua tiếng Anh,
Nxb. Penguin Books, Harmondsworth, 1969, p. 130. Nguyên văn: "All those who do
not follow the line which I have laid down will be broken." Linh mục Cao Văn
Luận, trong sách Bên gịng lịch sử Việt Nam, 1940-1975, Tantu Research,
Sacramento, California, 1983, tt. 60-61 có tường thuật lại đầy đủ buổi tiếp tân
ngày 25-6-1946 tại Paris, trong đó Hồ Chí Minh phát biểu ư kiến trên đây. Lúc
đó, họ Hồ qua Pháp theo phái đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu tham dự hội
nghị Fontainebleau. Trong cuộc tiếp tân nầy, có một số người Việt tham dự, trong
đó có linh mục Cao Văn Luận.
41. Vũ Thư Hiên, sđd. tr. 222.
42. Vũ Thư Hiên, sđd. tr. 607.
43. Một trong những nạn nhân nổi tiếng trong vụ nầy là ông Vũ Đ́nh Huỳnh, người
cộng tác thân tín của ông Hồ, phụ thân của tác giả Vũ Thư Hiên, đă được ông Hiên
tŕnh bày câu chuyện bạc đăi xuyên suốt trong tác phẩm Đêm giữa ban ngày.
|